IV. Nghi Khai Quang
Nguyên văn:
開光儀
伏以
靈寶垂科、有濟物度人之法、金言闡敎、能消災解厄之功、唵科典以開光、使物人之光顯、庶使五眼光明、六通具足、開光普炤天尊、雖然五眼通光、炤人居凡目見空花。今日復還徹身體碧眸燦爛、變河沙兮變河沙、奉請如來點開肉眼天眼慧眼法眼佛眼、天眼通無礙、肉眼礙非通、法眼猶觀俗、慧眼妙眞空、佛眼如天日、炤耀體還同、圓明法界內、無處不含容、色相與心相、凡心與聖心、容顔甚奇妙、光明炤十方、我昔曾供養、今復還親覲、聖主天中王、迦陵頻伽聲、慈悲愍衆生、降臨於法會。吾今開光畢。唵、薩蒭薩蒭三滿薩蒭母陀寧夜耶、莎下。
Phiên âm:
KHAI QUANG1 NGHI
Phục dĩ
Linh Bảo thùy khoa,2 hữu tế vật độ nhân chi pháp; kim ngôn xiển giáo, năng tiêu tai giải ách chi công; án khoa điển3 dĩ khai quang, sử vật nhân chi quang hiển; thứ sử Ngũ Nhãn4 quang minh, Lục Thông5 cụ túc; khai quang phổ chiếu Thiên Tôn,6 tuy nhiên Ngũ Nhãn thông quang, chiếu nhân cư phàm mục kiến không hoa. Kim nhật phục hoàn triệt thân thể bích mâu xán lạn, biến hà sa hề biến hà sa. Phụng thỉnh Như Lai điểm khai Nhục Nhãn, Thiên Nhãn, Huệ Nhãn, Pháp Nhãn, Phật Nhãn. Thiên Nhãn thông vô ngại, Nhục Nhãn ngại phi thông, Pháp Nhãn do quán tục, Huệ Nhãn diệu chơn không, Phật Nhãn như thiên nhật, chiếu diệu thể hoàn đồng, viên minh pháp giới nội, vô xứ bất hàm dung;7 sắc tướng dữ tâm tướng, phàm tâm dữ Thánh tâm; dung nhan thậm kỳ diệu, quang minh chiếu thập phương, ngã tích tằng cúng dường, kim phục hoàn thân cận, Thánh Chủ thiên trung vương, Ca Lăng Tần Già8 thanh,9 từ bi mẫn chúng sanh, giáng lâm ư pháp hội. Ngô kim khai quang tất. Án, tát sô tát sô tam mãn tát sô mẫu đà ninh dạ da, sa hạ.10
Dịch nghĩa:
NGHI THỨC KHAI QUANG
Cúi nghĩ:
Linh Bảo truyền khoa, có cứu vật độ người phương pháp; lời vàng diễn giáo, giúp tiêu tai giải ách công năng; nương khoa điển để khai quang, khiến vật người đều sáng tỏ; kế giúp Năm Nhãn sáng soi, Sáu Thông đầy đủ; khai quang chiếu khắp Thiên Tôn, tuy nhiên Năm Nhãn thông suốt, chiếu cõi người mắt phàm thấy giả tạm. Hôm nay lại thông suốt thân thể mắt biếc sáng rực, biến khắp cùng chừ biến khắp cùng. Cung thỉnh Như Lai khai mở Nhục Nhãn, Thiên Nhãn, Huệ Nhãn, Pháp Nhãn, Phật Nhãn. Thiên Nhãn thông chẳng kẹt, Nhục Nhãn kẹt chẳng thông, Pháp Nhãn quán thế tục, Huệ Nhãn ngộ chơn không, Phật Nhãn trời rực sáng, chiếu tỏa thể cũng đồng, tròn đầy khắp pháp giới, không đâu chẳng bao dung; tướng sắc cùng tướng tâm, tâm phàm và tâm Thánh; dung nhan rất kỳ diệu, sáng soi chiếu mười phương, con xưa từng cúng dường, nay lại được hầu cận, Thánh Chủ vua các Trời, tiếng Ca Lăng Tần Già, từ bi thương chúng sanh, giáng lâm xuống pháp hội. Con nay khai quang xong. Án, tát sô tát sô tam mãn tát sô mẫu đà ninh dạ da, sa hạ.
Chú thích:
- Khai Quang (開光): có nhiều loại Khai Quang khác nhau. Căn cứ vào tôn giáo mà có Khai Quang của Phật Giáo, Khai Quang của Đạo Giáo, Khai Quang của Âm Dương Sư (陰陽師), v.v.; như ở các đền thờ Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君) thường tiến hành nghi thức Quan Công Khai Quang (關公開光). Khai Quang của Phật Giáo lại chia thành Quần Khai Quang (群開光, Khai Quang cho nhiều hình tượng) và Đơn Độc Khai Quang (單獨開光, Khai Quang chỉ cho một tượng). Mỗi khi có tự viện nào lạc thành hay trùng tu, sau khi điêu khắc tượng Phật Bồ Tát xong, thường cung thỉnh chư tôn Thiền đức đến để tiến hành lễ Khai Quang Điểm Nhãn (開光點眼) cho các pho tượng đó. Đối với các tôn giáo, Khai Quang được xem như là một loại nghi thức vô cùng linh thiêng, quan trọng, tiếp dẫn linh tánh cũng như tiên khí vào trong tôn tượng. Nguồn gốc của nghi thức nầy phát xuất từ Đạo Giáo; lấy cái vô hình trong vũ trụ, có đủ linh tánh với pháp lực vô biên đem nhập vào trong thần tượng; cho nên sau khi đem thờ phụng thì tôn tượng ấy trở thành linh hiển. Nguyên lai, Phật Giáo không có nghi thức nầy, mà chỉ có nghi thức gia trì tượng Phật, so với nghi Khai Quang có khác nhiều. Nếu xét về phương pháp Khai Quang thần tượng theo Đạo Giáo, mọi việc đều thông qua vị Cao Công Pháp Sư (高功法師), chọn ngày giờ tốt để tiến hành nghi Khai Quang Điểm Nhãn. Nghi thức ấy gồm 12 loại khoa nghi: Thanh Tịnh (清淨), Thỉnh Thần (請神), Phát Chỉ (發旨), Phát Lịnh (發令), Thất Tinh (七星), Bát Quái (八卦), Nhập Thần (入神), Sắc Bút (敕筆), Sắc Kính (敕鏡), Sắc Kê (敕雞), Khai Quang (開光), Phát Hào (發毫). Khai Quang còn gọi là Khai Nhãn (開眼), Khai Minh (開明), Khai Quang Minh (開光明), Khai Nhãn Cúng Dường (開眼供養), Khai Nhãn Giới (開眼界), Khai Nhãn Căn (開眼根). Thiền Lâm Tượng Khí (禪林象器) quyển Thượng có ghi rằng: “Phàm tân tạo Phật Tổ Thần Thiên tượng giả, chư tông sư gia, lập địa sổ ngữ, tác bút điểm thế, trực điểm khai tha Kim Cang chánh nhãn, thử vi Khai Nhãn Phật sự, hựu danh Khai Thủy Minh (凡新造佛祖神天像者、諸宗師家、立地數語、作筆點勢、直點開他金剛正眼、此爲開眼佛事、又名開水明, phàm các tượng Phật, Tổ, Thần, chư Thiên mới tạo nên, các nhà Tông sư, đứng trên mặt đất nói vài lời, cầm cây bút theo tư thế điểm, điểm thẳng khai mở chánh nhãn Kim Cang của tượng; đây là Phật sự Khai Nhãn, còn gọi là Khai Thủy Minh).” Phật Giáo cho rằng chúng sanh từ vô thỉ kiếp cho đến nay, đã chịu biết bao nhiêu ô nhiễm của trần cấu, vô minh, nên không thể nào thấy rõ chân lý của các pháp, vì vậy cần phải khai mở trí tuệ bên trong mỗi chúng ta. Khai Quang cũng là một hình thức để tu chứng đạt đến tương ứng với Phật tâm, cầu thỉnh chư Phật, Bồ Tát giáng lâm, ấn chứng cho Ứng Thân của tôn tượng, rót vào đó năng lượng đại từ, đại bi, đại trí, đại tuệ, Ngũ Nhãn, Lục Thông, thông qua người tiến hành lễ Khai Quang. Do đó, hiệu quả của việc Khai Quang hoàn toàn liên quan đến vị Đạo Sư hành lễ, chứ không phải do nghi thức hay hình thức gì cả. Về tiến trình lễ Khai Quang, trước khi hành lễ, phải an trí tôn tượng một nơi cố định, trước tụng kinh và thần chú để cung thỉnh chư Phật, Bồ Tát an tọa; sau đó mới thỉnh chư vị cao tăng vì tôn tượng mà tiến hành Khai Quang, thuyết pháp. Hắc Cốc Đăng Ngữ Lục (黑谷燈語錄) quyển Trung có giải thích rằng: “Khai Nhãn giả, bổn thị Phật tượng điêu khai nhãn, thị sự Khai Nhãn, thứ tăng gia tụng Phật Nhãn Chơn Ngôn, tụng Đại Nhật Chơn Ngôn, nhi thành tựu Phật nhất thiết công đức, thử vị Khai Nhãn dã(開眼者、本是佛匠雕開眼、是事開眼、次僧家誦佛眼眞言、誦大日眞言、而成就佛一切功德、此謂開眼也, Khai Nhãn vốn là khai mở con mắt của tượng điêu khắc, việc đó là Khai Nhãn; kế đến chư tăng tụng Phật Nhãn Chơn Ngôn, tụng Đại Nhật Chơn Ngôn, để thành tựu hết thảy công đức, đây được gọi là Khai Nhãn vậy).” Thật ra, Khai Quang là một loại nghi thức thuyết pháp cử hành cho tượng Phật. Nghi thức cụ thể như sau: Trước hết vị chủ lễ cầm một cái khăn lông hướng về tượng Phật làm động tác lau chùi tôn tượng, rồi nói một câu kệ, tán tụng công đức của chư Phật Bồ Tát, như vậy được gọi là Khai Nhãn. Tiếp theo, vị ấy dùng cái kính hướng đối chiếu ngay chánh diện của tượng Phật, nói vài lời về ngôi tự viện hiện tại, nhân duyên hoàn thành tôn tượng. Sau đó, vị chủ lễ cầm cây bút Chu Sa (硃砂), lại nói một câu kệ ngữ khác, rồi cầm cây bút hướng về tôn tượng làm động tác “điểm”, hô vang một tiếng “khai (開, mở ra)”; khi nghi thức ấy đã xong, như vậy việc Khai Quang được xem như là hoàn tất. Khi Khai Quang, do vì công đức của chư Phật Bồ Tát không giống nhau, nên vị chủ lễ nói pháp ngữ cũng không thống nhất. Tại Trung Quốc, Pháp Hội Khai Quang được tiến hành đầu tiên vào năm thứ 5 (980) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) nhà Bắc Tống. Truyền Pháp Đại Sư Thí Hộ (傳法大師施護), người nước Ô Điền Nẵng (烏塡曩) ở Bắc Ấn Độ, đã dịch bản Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh (佛說一切如來安像三昧儀軌經, Taishō Vol. 21, No. 1418) tại Dịch Kinh Viện (譯經院) của Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) thuộc phủ Khai Phong. Dịch bản nầy ghi rõ toàn bộ quy trình tiến hành nghi thức Khai Quang Điểm Nhãn một cách chi tiết. Trong Điều Thiên Trí Thiên Hoàng Thập Niên Thập Nguyệt (天智天皇十年十月條, tháng 10 năm thứ 10 [671] đời Thiên Trí Thiên Hoàng [天智天皇, Tenji Tennō, tại vị 661-671]) của bộ Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshōki) có ghi lại Lễ Khai Nhãn cho trăm tượng Phật trong cung nội; rồi trong Điều Trì Thống Thiên Hoàng Thập Nhất Niên Thất Nguyệt (持統天皇十一年七月條, tháng 7 năm thứ 11 [697] đời Trì Thống Thiên Hoàng [持統天皇, Jitō Tennō, tại vị 690-697]) có ký lục cho biết rằng tại Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji) ở vùng Phi Điểu (飛鳥, Asuka) có tiến hành Hội Khai Nhãn. Vào ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ 4 (752) niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo (天平勝寶), lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật (大佛開眼會) được diễn ra tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), thành phố Nại Lương (奈良, Nara). Hiếu Khiêm Thiên Hoàng (孝謙天皇, Kōken Tennō, tại vị 749-758), Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749), Hoàng Thái Hậu và phi tần nội cung, cùng toàn thể quần thần bá quan văn võ đồng đến tham dự với khoảng hơn 1 vạn tăng sĩ hành lễ. Đặc biệt, lễ hội nầy do Bồ Đề Tiên Na (s: Bodhisena, 菩提僊那) chủ lễ, và điều khiển nhạc lễ thì do Phật Triết (佛哲, Buttetsu, ?-?, hay Phật Triệt [佛徹]), vị tăng sang Nhật Bản dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara), xuất thân vùng Lâm Ấp (林邑, Nam bộ Việt Nam, Huế-Phan Rang). Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (開元, 713-741) nhà Đường, ông theo Bồ Đề Tiên Na sang Trung Quốc. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường là Lý Kính (理鏡) và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng Thành (多治比廣成), ông cùng với thầy sang Nhật, đến trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Bồ Đề Tiên Na dạy Phật pháp, còn Phật Triệt chuyên tâm truyền dạy Nhã Nhạc Lâm Ấp cho nội cung triều đình Nhật, cùng là dạy các điệu múa Bồ Tát, Bạt Đầu, v.v. để cúng dường trong các lễ hội Phật Giáo. Trong lễ Hội Khai Nhãn năm 752 này, Phật Triệt điều khiển dàn nhạc gồm hơn 400 nhạc công và vũ công của Nhã Nhạc Viện (雅樂院) trong nội cung, diễn tấu Nhạc Lâm Ấp để cúng dường Đại Phật Tượng Tỳ Lô Giá Na (s: Vairocana, 毘盧遮那); lễ Hội kéo dài trong 3 tháng. Trong Chuẩn Đề Phần Tu Tất Địa Sám Hối Huyền Văn (准提焚修悉地懺悔玄文, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1482) có ghi lại sự huyền nhiệm của lễ Khai Nhãn như sau: “Hựu như Đinh Nguyên Công Tịnh Y Thiền Sư, vi cư sĩ thời, tằng vi dư y Bất Không dịch, tả Chuẩn Đề tượng ư Dược Sơn viên trung; Khai Quang chi nhật, hốt hữu cốt đổng gia, dĩ Chuẩn Đề Chơn Ngôn Phạn thư cựu hồng nha trục, Phạn thư cổ từ lư, đồng hương hạp, lai trợ trang diễn cúng dường giả, tinh cảm chiêu trung bất tư nghì sự (又如丁元公淨伊禪師、爲居士時、曾爲余依不空譯、寫准提像於藥山園中、開光之日、忽有骨董家、以准提眞言梵書舊紅牙軸、梵書古瓷罏、銅香盒、來助裝演供養者、幷感召中不思議事, lại như Đinh Nguyên Công Tịnh Y Thiền Sư, khi còn làm cư sĩ, từng theo bản dịch của Bất Không, vẽ tượng Chuẩn Đề trong vườn Dược Sơn; ngày lễ Khai Quang, chợt có một người chơi đồ cổ, lấy cuộn sách cũ kỹ ghi Chuẩn Đề Chơn Ngôn bằng tiếng Phạn, bình sứ có ghi tiếng Phạn, hộp đốt hương bằng đồng, đến giúp trang trí cúng dường, bèn cảm biết trong ấy việc không nghĩ bàn).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, có lòng văn Sớ về Tạo Tượng Khai Quang (造像開光) như: “Tướng hảo trang nghiêm, dĩ tận quỳ khuynh chi khẩn; trai tu túc liệt, viên thân bộc hiến chi cung; ngung nhược hữu phu, nghiễm nhiên như tại. Thiết niệm: [Mỗ] thọ hạ liệt thân phạp đại nhân tướng, đổ Tử Ma chi sắc, hạt thắng kỳ thừa; vọng bạch hào chi quang, đồ thiết bi ngưỡng; thị dĩ kính vu [mỗ] tự thí tạo [mỗ] tượng nhất tôn, tạo công ký tất nhưng diên tăng kiến Khai Quang thực phước đạo tràng, [nhập Phật sự] phủ tu vi thiện, ngưỡng đáp hồng hưu. Phục nguyện: Ngộ chơn không tướng, hoạch pháp tánh thân; bị nhị nghiêm chi tư, biến du giác uyển; tiêu Ngũ Trược chi uế, hằng xử Tịnh Bang (相好莊嚴、已盡葵傾之懇、齋饈肅列、爰申曝獻之恭、顒若有孚、儼然如在、竊念[某]受下劣身乏大人相、睹紫磨之色、曷勝祇承、望白毫之光、徒切悲仰、是以敬于[某]寺施造[某]像一尊、造功既畢仍延僧建開光植福道塲、[入佛事]俯修微善、仰答洪休、伏願悟眞空相、獲法性身。備二嚴之資、遍遊覺苑、消五濁之穢、恆處淨邦, tướng tốt trang nghiêm, bày tận tấc lòng khẩn thiết; cỗ chay thiết đủ, chí thành dâng hiến cúng dường; vĩ đại đức tin, nghiễm nhiên hiện hữu. Thiết nghĩ: [Con…] thọ thân hạ liệt thiếu tướng đại nhân [bậc giác ngộ], thấy vàng ròng sắc tướng, sao khỏi ước mong; ngắm mày trắng hào quang, không sao buồn tủi; do vậy kính ngưỡng chùa …, tạo dựng tượng một pho, công trình hoàn tất, lại thỉnh chư tăng lập đạo tràng Khai Nhãn gieo phước; [phần Phật sự], cúi tu chút thiện, ngưỡng đáp hồng ân. Cúi mong: Ngộ chơn không tướng, đạt pháp tánh thân; đủ phước trí dáng hình, chơi khắp vườn giác; tiêu Năm Trược ô uế, thường trú Tịnh Bang).” Trong Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh có nêu một số câu Thần Chú dùng cho lễ Khai Quang như Chơn Ngôn Hiến Ứ Già Cúng Dường (眞言獻閼伽供養, cúng dường nước) là “Án, tát rị phạ bá ba ta phổ tra na hạ nẵng phạ nhật ra dã tát phạ hạ (唵薩哩嚩播波娑普吒那賀曩嚩日囉野薩嚩賀)”; Hương Du Chơn Ngôn (香油眞言, Chơn Ngôn cúng dường hương dầu) là “Án, tát rị phạ đát tha nga đa ca dã vĩ thú đà nhĩ ta phạ hạ (唵薩哩嚩怛他誐多迦野尾戍馱你娑嚩賀)”; Phật Nhãn Bồ Tát Chơn Ngôn Năng Trừ Nhất Thiết Cấu (佛眼菩薩眞言能除一切垢, Chơn Ngôn của Phật Nhãn Bồ Tát có thể trừ tất cả những dơ bẩn) là “Án, tát rị phạ ra tổ ba hạ ra noa ta phạ hạ (唵薩哩嚩囉祖波賀囉拏娑嚩賀)”; Quán Đảnh Chơn Ngôn (灌頂眞言) là “Án, tát rị phạ đát tha nga đa tỷ sân ca tam ma dã thất rị duệ hồng (唵薩哩嚩怛他誐哆鼻詵迦三摩野室哩曳吽)”; Trước Y Chơn Ngôn (著衣眞言, Chơn Ngôn mặc áo) là “Án, phạ nhật ra phạ ta tế ta phạ hạ (唵嚩日囉嚩娑細娑嚩賀)”; An Nhĩ Chơn Ngôn (安耳眞言, Chơn Ngôn an vị lỗ tai) là “Án, ca ra noa ma lộ đà ra noa hồng (唵迦囉拏摩路馱囉拏吽)”; An Phát Kế Chơn Ngôn (安髮髻眞言, Chơn Ngôn an vị tóc và búi tóc) là “Án, tát rị phạ chỉ ta a phạ đa ra noa hồng ta phạ hạ (唵薩哩嚩枳娑阿嚩哆囉拏吽娑嚩賀)”; An Chỉ Giáp Chơn Ngôn (安指甲眞言, Chơn Ngôn an vị ngón tay) là “Án, tát rị phạ thâu nẵng khư thế na nẵng ra nhã ta phạ hạ (唵薩哩嚩輸曩佉砌那曩囉惹娑嚩賀)”; An Tì Tu Chơn Ngôn (安髭鬚眞言, Chơn Ngôn an vị râu ria) là “Án, tát rị phạ ta ma tô rô đà ra noa hồng hồng hứ lăng (唵薩哩嚩娑摩酥嚕馱囉拏吽吽呬凌)”; Hiến Đồ Hương Chơn Ngôn (獻塗香眞言, Chơn Ngôn dâng cúng dầu hương) là “Án, phạ nhật ra hiến đệ ta phạ hạ (唵嚩日囉巘弟娑嚩賀)”; An Trang Nghiêm Chơn Ngôn (安莊嚴眞言) là “Án, phạ nhật ra bà ra noa vĩ bộ sắt ni ta phạ hạ (唵嚩日囉婆囉拏尾部瑟尼娑嚩賀)”; Bổn Tôn Tam Muội Chơn Ngôn (本尊三昧眞言) là “Án, hồng đát lạc ngật rị ác (唵吽怛落仡哩惡)”; Hiến Hoa Chơn Ngôn (獻花眞言) là “Án, phạ nhật ra bổ sắt bế hồng (唵嚩日囉補瑟閉吽)”; Hiến Hương Chơn Ngôn (獻香眞言) là “Án, phạ nhật ra độ bế (唵嚩日囉度閉)”; Đăng Chơn Ngôn (燈眞言) là “Án, phạ nhật ra nễ bế ta phạ hạ (唵嚩日囉禰閉娑嚩賀)”; Thực Chơn Ngôn (食眞言) là “Án, tân nỗ ba đán bát ra để ngật rị hận nẵng ta phạ hạ (唵賓努波旦缽囉底仡哩恨曩娑嚩賀)”; Khai Nhãn Quang Chơn Ngôn (開眼光眞言) là “Án, tác sô tác sô tam mãn đa tác sô vĩ thú đà nễ ta phạ hạ (唵作芻作芻三滿哆作芻尾戍馱你娑嚩賀)” và “Án, nễ đát ra ba tra lộ ba hạ ra noa hứ lăng (唵你怛囉波吒路波賀囉拏呬凌)”; Hộ Ma Chơn Ngôn (護摩眞言) là “Án, phạ nhật ra dụ thế ta phạ hạ (唵嚩日囉喻世娑嚩賀)”; Tức Tai Tăng Ích Chơn Ngôn (息災增益眞言) là “Án, phạ nhật ra bố sắt tra duệ ta phạ hạ (唵嚩日囉布瑟吒曳娑嚩賀)”; Hộ Thế Chơn Ngôn (護世眞言) là “Ấn, nại ra dã ta phạ hạ (印捺囉野娑嚩賀)”, v.v.
- Linh Bảo thùy khoa (靈寶垂科): Linh Bảo ở đây có nghĩa là Linh Bảo Thiên Tôn (靈寶天尊), còn gọi là Thượng Thanh Đại Đế (上清大帝), hay Thái Thượng Ngọc Thần Đại Đạo Quân (太上玉晨大道君); gọi cho đủ là Nhất Khí Hóa Tam Thanh Thượng Thanh Cư Vũ Dư Thiên Chơn Đăng Thượng Thanh Cảnh Nguyên Khí Sở Thành Nhật Linh Bảo Quân Linh Bảo Thiên Tôn Diệu Hữu Thượng Đế (一氣化三清上清居禹余天眞登上清境元氣所成日靈寶君靈寶天尊妙有上帝); gọi tắt là Thái Thượng Đạo Quân (太上道君), Ngọc Thần Đạo Quân (玉晨道君). Trong Điện Tam Thanh (三清殿) của các Đạo Quán, vị nầy được an trí phía bên phải, phần lớn tay cầm hạt ngọc Như Ý. Phái Linh Bảo (靈寶派) thờ Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) làm Tổ Sư của giáo phái; lấy Ngũ Thiên Chơn Văn (五篇眞文), Nguyên Thỉ Vô Lượng Độ Nhân Thượng Phẩm Diệu Kinh (元始無量度人上品妙經), Linh Bảo Ngũ Phù Tự (靈寶五符序) làm kinh điển chính; chủ yếu lấy khoa nghi bùa chú làm chính. Giáo phái nầy chịu ảnh hưởng của Phái Thượng Thanh (上清派), cũng xem trọng việc tụng kinh, xiển dương độ người khắp mười phương để trở thành vị thần bất tử. Linh Bảo thùy khoa nghĩa là Phái Linh Bảo lưu truyền khoa nghi cứu nhân độ thế. Như trong Phá Ngũ Phương Ngục Đông Phương Ngục Khoa Nghi (破五方獄東方獄科儀) của Đạo Giáo có câu: “Thái Thượng thiết giáo, phổ truyền độ nhân chi điển; Linh Bảo thùy khoa, quảng diễn bạt tế chi văn (太上設敎、普傳度人之典、靈寶垂科、廣演拔濟之文, Thái Thượng lập giáo, khắp truyền độ người điển tịch; Linh Bảo truyền khoa, rộng diễn cứu tế văn chương).” Hay trong Vô Thượng Hoàng Lục Đại Trai Lập Thành Nghi (無上黃籙大齋立成儀) quyển 27 cũng có đoạn: “Phục dĩ Động Huyền hạ hóa, diễn Bát Môn độ mạng chi nghi; Linh Bảo thùy khoa, trước Cửu Luyện phản sanh chi quyết (伏以洞玄下化、演八門度命之儀、靈寶垂科、著九鍊返生之訣, nép nghĩ Động Huyền hiện xuống, bày Tám Cửa độ mạng thức nghi; Linh Bảo truyền khoa, phô Chín Luyện hoàn sinh yếu quyết).”
- Khoa điển (科典): từ gọi chung của nghi thức Đạo Giáo. Khoa tức chỉ cho khoa nghi; điển là điển phạm, điển tịch. Đối với Đạo Giáo, khi tiến hành nghi thức cúng đàn tràng, thường tuân thủ theo những quy định mang tính điển tịch, khoa nghi của Đạo Giáo; và gọi chung đó là khoa điển. Trong bộ Kim Lục Trai Khải Đàn Nghi (金籙齋啟壇儀) do Đạo sĩ Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) thời Đường Ngũ Đại biên soạn có đoạn rằng: “Đương ư danh sơn động phủ, cổ tích tiên hương, tinh bị tín nghi, án tuân khoa điển, tu kim bút bảo trai, bái thiên tạ quá(當於名山洞府、古跡仙鄉、精僃信儀、按遵科典、修金筆寶齋、拜天謝過, nay tại các danh sơn động phủ, cổ tích tiên hương, chuẩn bị thức nghi, tuân theo khoa điển, tu thiết lễ cúng chay, lạy Trời tạ quá).” Hay trong Thái Thượng Huỳnh Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 1 có câu: “Y Huỳnh Lục giản văn linh tiên khoa điển, siêu độ tồn một (依黃籙簡文靈仙科典、超度存歿, nương vào khoa điển linh tiên văn ngắn gọn của Huỳnh Lục mà làm cho người còn và kẻ mất được siêu độ).”
- Ngũ Nhãn (s: pañca cakṣūṃṣi, p: pañca cakkhūni, 五眼): chỉ cho 5 loại nhãn lực. (1) Nhục Nhãn (s: māṃsa-cakṣus, 肉眼), là con mắt vốn có đầy đủ nơi nhục nhân nầy. (2) Thiên Nhãn (s: divya-cakṣus, 天眼), là con mắt của người trên cõi Trời Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), chứng đắc được nhờ có tu Thiền Định. Mắt nầy xa gần trước sau, trong ngoài, ban ngày hay ban đêm, trên hay dưới đều có thể thấy được. (3) Tuệ Nhãn (s: prajñā-cakṣus, 慧眼), là con mắt của hàng Nhị Thừa, có thể biết rõ chân không vô tướng, cũng có thể quán sát các hiện tượng đều là không tướng, định tướng. (4) Pháp Nhãn (s: dharma-cakṣus, 法眼), là con mắt của chư vị bồ tát có thể quán chiếu thấy tất cả các pháp môn để cứu độ hết thảy chúng sanh. (5) Phật Nhãn (s: buddha-cakṣus, 佛眼), là con mắt của Phật, có đầy đủ tác dụng của 4 loại nhãn lực vừa nêu trên. Mắt nầy không có gì không thấy biết, cho đến không việc gì không biết, không nghe; cả nghe và thấy đều dùng hỗ tương lẫn nhau, không có tư duy nào mà không thấy được. Các nhà Thiên Thai Tông thuyết rằng nhân vị có Nhục Nhãn, Thiên Nhãn, Tuệ Nhãn, Pháp Nhãn; và quả vị có Phật Nhãn. Trong Đại Huệ Độ Kinh Tông Yếu (大慧度經宗要, Taishō Vol. 33, No. 1697) có câu: “Lục Độ vạn hạnh ư chi viên mãn, Ngũ Nhãn vạn đức tùng thị sanh thành, Bồ Tát chi yếu tạng dã, chư Phật chi chơn mẫu dã (六度萬行於之圓滿、五眼萬德從是生成、菩薩之要藏也、諸佛之眞母也, sáu độ muôn hạnh nơi đây tròn đầy, năm nhãn muôn đức từ đây sanh thành; là kho báu của Bồ Tát, là đức mẹ của chư Phật).” Hay trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung có đoạn: “Lịch Ngũ Vị Bồ Đề chi đạo, nhập Tam Đức Niết Bàn chi thành, luyện Tam Nghiệp nhi thành Tam Luân, ly Tam Thọ nhi viên Tam Niệm; nhân tùng Tam Quán huân phát, quả cụ Ngũ Nhãn viên minh, phương năng du hí thần thông, xuất nhập bách thiên Tam Muội (歷五位菩提之道、入三德涅槃之城、練三業而成三輪、離三受而圓三念、因從三觀薰發、果具五眼圓明、方能遊戲神通、出入百千三昧, trải qua con đường Bồ Đề Năm Vị, bước vào thành trì Niết Bàn Ba Đức, luyện Ba Nghiệp trở thành Ba Luân, lìa Ba Thọ tròn đầy Ba Niệm, nhân từ Ba Quán phát khởi, quả đủ Năm Nhãn sáng soi; mới nên dong ruỗi thần thông, ra vào trăm ngàn Tam Muội).” Trong phần Phổ Biến Văn (普變文) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2 cũng có câu: “Nghênh thỉnh thiên hiền vạn thánh, quy y Ngũ Nhãn Lục Thông, vọng pháp giá dĩ quang lâm, nhạ hương xa nhi hạ giáng (迎請千賢萬聖、歸依五眼六通、望法駕以光臨、迓香車而下降, nghinh thỉnh ngàn hiền vạn thánh, quy y Năm Nhãn Sáu Thần Thông, mong ngự giá pháp quang lâm, cỡi xe hương mà giáng xuống).”
- Lục Thông (六通): còn gọi là Lục Thần Thông (s: ṣaḍ abhijñāḥ, 六神通); là 6 loại năng lực siêu nhiên diệu dụng, vô ngại, tự tại do chư Phật, Bồ Tát chứng đạt được nhờ sức mạnh của Định và Tuệ, gồm: (1) Thần Cảnh Thông (神境通), còn gọi là Thân Thông (身通), Thân Như Ý Thông (身如意通), Thần Túc Thông (神足通); tức là năng lực tự do vô ngại, tùy tâm mong muốn mà hiện thân; là tên gọi chung của các năng lực siêu nhiên như bay trên trời, hóa thân, v.v., nhưng không thuộc 5 loại năng lực bên dưới. (2) Thiên Nhãn Thông (天眼通), là năng lực có thể thấy được tướng sống chết, khổ vui của chúng sanh trong Lục Đạo (s: ṣaḍ-gati, 六道), cũng như thấy được toàn bộ các loại hình sắc của thế gian, không có gì chướng ngại cả. (3) Thiên Nhĩ Thông (天耳通), là năng lực có thể nghe được ngôn ngữ vui buồn, khổ não của chúng sanh trong Lục Đạo, cũng như các loại âm thanh trong thế gian. (4) Tha Tâm Thông (他心通), là năng lực có thể biết được trong tâm của chúng sanh trong Lục Đạo suy nghĩ điều gì. (5) Túc Mạng Thông (宿命通), còn gọi là Túc Trú Thông (宿住通), là năng lực có thể biết được trăm ngàn vạn kiếp sống trước cũng như những việc làm của bản thân mình và chúng sanh trong Lục Đạo. (6) Lậu Tận Thông (漏盡通), là năng lực có thể đoạn tận hết thảy Kiến, Tư, Hoặc của Ba Cõi, không còn chịu sự sanh tử của Ba Cõi, và chứng đắc năng lực thần thông diệt tận các lậu hoặc. Trong đó, Thiên Nhãn Thông, Túc Mạng Thông và Lậu Tận Thông được gọi là Tam Minh (三明), cọng lại gọi chung là Tam Minh Lục Thông. Trừ Thần Túc Thông ra, 5 loại thần thông còn lại được gọi là Ngũ Thông (五通). Theo Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), tổ sư sáng lập ra Tào Động Tông Nhật Bản, Lục Thần Thông nầy không phải là năng lực đặc thù, mà những gì của đời thường hằng ngày chính là thần thông. Từ đó, Lục Thông còn là tên gọi của những người chứng được 6 loại thần thông nầy như chư Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong bài thỉnh của Lễ An Vị Phật có câu: “Nhất tâm phụng thỉnh: Tam Minh, Bát Giải, Ngũ Quả, Lục Thông, phân thân ư thử độ tha phương, thuyết pháp ư nhân gian thiên thượng, quá hiện vị lai, vô lượng Tăng Già Da (一心奉請、三明、八解、五果、六通、分身於此土他方、說法於人間天上、過現未來無量僧伽耶, một lòng phụng thỉnh: vô lượng chư tăng trong quá khứ, hiện tại, tương lai, đang thuyết pháp trên Trời, nơi cõi người, phân thân nơi quốc độ nầy hay phương khác, đã chứng Ba Minh, Tám Giải, Năm Quả, Sáu Thần Thông).” Trong Lễ Niệm Di Đà Đạo Tràng Sám Pháp (禮念彌陀道塲懺法, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1467) quyển 7 lại có đoạn: “Phù phát nguyện vãng sanh giả, thuận Thích Ca thiên tán chi ngôn, ứng Pháp Tạng độ sanh chi nguyện, lâm chung chi tế, cảm Thánh chúng dĩ lai nghênh, vãng sanh chi thời, mông Di Đà nhi tiếp dẫn, thác chất Thất Trân trì nội, hóa sanh Cửu Phẩm liên trung, thọ lượng nan cùng, thân quang vô số, hoạch Thất Biện chi trí, cụ Lục Thông chi uy, Bồ Tát vi lân, Thanh Văn tác bạn (夫發願往生者、順釋迦偏讚之言、應法藏度生之願、臨終之際、感聖眾以來迎、往生之時、蒙彌陀而接引、託質七珍池內、化生九品蓮中、壽量難窮、身光無數、獲七辯之智、具六通之威、菩薩爲鄰、聲聞作伴, phàm người phát nguyện vãng sanh, phải thuận theo lời tán thán của đức Thích Ca, hợp với nguyện lực độ sanh của Tỳ Kheo Pháp Tạng, gặp lúc lâm chung, biết Thánh chúng đến đón nghinh, ngay khi vãng sanh, mong sao Di Đà tiếp dẫn; gởi chất nơi hồ sen Bảy Báu, hóa sanh trong Chín Phẩm sen; thọ mạng không cùng, hào quang vô số; đạt Bảy Biện Tài trí tuệ, đủ Sáu Thần Thông uy đức; Bồ Tát láng giềng, Thanh Văn bạn hữu).”
- Thiên Tôn (天尊): (1) Tôn xưng cao quý nhất trong chư vị thiên thần của Đạo Giáo; như Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊), Ngọc Hoàng Thiên Tôn (玉皇天尊), v.v. (2) Phật Giáo gọi đức Phật là Thiên Tôn. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có đoạn: “Kim nhật Thế Tôn trú kỳ đặc pháp, kim nhật Thế Hùng trú Phật sở trú, kim nhật Thế Nhãn trú đạo sư hành, kim nhật Thế Anh trú tối thắng đạo, kim nhật Thiên Tôn hành Như Lai đức (今日世尊住奇特法、今日世雄住佛所住、今日世眼住導師行、今日世英住最勝道、今日天尊行如來德, hôm nay đức Thế Tôn trú nơi pháp đặc biệt, hôm nay đấng Thế Hùng trú nơi Phật thường trú, hôm nay đấng Thế Nhãn trú nơi hạnh của đạo sư, hôm nay đấng Thế Anh trú nơi đạo tối thắng, hôm nay đấng Thiên Tôn trú nơi đức của Như Lai).” Hay trong Nhất Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục Kinh (一切智光明仙人慈心因緣不食肉經, Taishō Vol. 3, No. 183) cũng có đoạn: “Thế Tôn ! Như thử đồng tử, uy nghi tường tự, quang minh vô lượng, dữ Phật vô dị, ư hà Phật sở, sơ phát đạo tâm, thọ trì thùy kinh; duy nguyện Thiên Tôn, vị ngã giải thuyết (世尊、如此童子、威儀庠序、光明無量、與佛無異、於何佛所、初發道心、受持誰經、唯願天尊、爲我解說, Thế Tôn ! Đồng tử như vậy, oai nghi rõ ràng, ánh sáng vô lượng, với Phật không khác, ở nơi Phật nào, mới phát đạo tâm, thọ trì kinh gì; cúi mong Thiên Tôn, vì con nói rõ).” Trong Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) còn giải thích rằng: “Thế hữu Tam Tôn đồng hưu thiên hạ, Phật viết Thế Tôn, Đạo viết Thiên Tôn, đế viết Chí Tôn (世有三尊同休天下、佛曰世尊、道曰天尊、帝曰至尊, trên đời có ba đấng tôn kính cùng làm yên thiên hạ, Phật gọi là Thế Tôn, Đạo gọi là Thiên Tôn, nhà vua gọi là Chí Tôn).”
- Đoạn văn “Thiên Nhãn Thông vô ngại … vô xứ bất hàm dung” tương truyền là bài kệ của cổ đức, được tìm thấy trong một số kinh điển như Kim Cang Bát Nhã Kinh Sớ Luận Toản Yếu (金剛般若經疏論纂要, Taishō Vol. 33, No. 1701) quyển Hạ, Kim Cang Kinh Tâm Ấn Sớ (金剛經心印疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 505) quyển Hạ, Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chú Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 6, Kim Cang Kinh Dị Giải (金剛經易解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 510) quyển Hạ, Kim Cang Kinh Pháp Nhãn Chú Sớ (金剛經法眼註疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 500) quyển Hạ, Tứ Giáo Nghi Bị Thích (四敎儀僃釋, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 57, No. 977) quyển Hạ, Viên Giác Kinh Lược Sớ Sao (圓覺經略疏鈔, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 248) quyển 9, Lương Triều Phó Đại Sĩ Tụng Kim Cang Kinh (梁朝傅大士頌金剛經, Taishō Vol. 85, No. 2732), Duy Ma Kinh Vô Ngã Sớ (維摩經無我疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 19, No. 348) quyển 3, v.v.; tuy nhiên, có vài từ khác với bản trên: “Cổ đức kệ vân: ‘Thiên Nhãn thông phi ngại, Nhục Nhãn ngại phi thông, Pháp Nhãn duy quán tục, Huệ Nhãn trực duyên không, Phật Nhãn như thiên nhật, chiếu dị thể hoàn đồng, viên minh pháp giới nội, vô xứ bất hàm dung’ (古德偈云、天眼通非礙、肉眼礙非通、法眼唯觀俗、慧眼直緣空、佛眼如千日、照異體還同、圓明法界內、無處不含容, cổ đức có kệ rằng: ‘Thiên Nhãn thông chẳng kẹt, Nhục Nhãn kẹt chẳng thông, Pháp Nhãn quán thế tục, Huệ Nhãn ngộ duyên không, Phật Nhãn trời rực sáng, chiếu khác thể cũng đồng, tròn đầy khắp pháp giới, chốn chốn thảy dung thông’).” Như vậy, đoạn văn trên được trích dẫn từ trong Đại Tạng Kinh và Tục Tạng Kinh. Tương truyền đây là bài kệ tụng của Phó Đại Sĩ (傅大士, 497-569, hiệu là Thiện Huệ Đại Sĩ [善慧大士]), cư sĩ trứ danh thời nhà Lương.
- Ca Lăng Tần Già (s: kalaviṅka, p: karavika, 迦陵頻伽): còn gọi là Ca La Tần Già (歌羅頻伽), Ca Lan Già (加蘭伽), Ca Lan Tần Già (迦蘭頻伽), Yết La Tần Già (羯羅頻迦), Ca Lăng Tần Già (迦楞頻伽), Ca Lăng Tỳ Già (迦陵毘伽), Ca Lăng Già (迦陵伽), Yết Lăng Già (羯陵伽), Yết Tỳ Già La (羯毘伽羅), Yết Lăng Già La (羯陵伽羅), Ca Tỳ Già La (迦毘伽羅), Hạt Thất Già La (鶡鵯伽羅), Ca Vĩ La (迦尾羅), v.v.; ý dịch là hảo thanh điểu(好聲鳥, chim có tiếng hót hay), mỹ dung điểu (美容鳥, chim có hình dáng đẹp), diệu thanh điểu (妙聲鳥, chim có âm thanh tuyệt diệu). Đây là tên của một loài chim, thường thấy chủ yếu ở Ấn Độ, xuất xứ từ trên Tuyết Sơn (雪山); nó sắc màu đen mượt giống như chim sẻ, bộ lông rất đẹp, ở phần cổ có màu đỏ. Khi còn trong trứng, chim đã có thể cất tiếng hót, âm thanh trong trẻo, hòa nhã, vi diệu, so với tiếng của Trời, người, Khẩn Na La (s: kiṃnara, 緊那羅) cũng như tất cả những loài chim khác đều thua xa. Như trong A Di Đà Kinh Yếu Giải Tiện Mông Sao (阿彌陀經要解便蒙鈔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 430) quyển Trung có giải thích rằng: “Sơn cốc khoáng dã, kỳ trung đa hữu Ca Lăng Tần Già, xuất diệu âm thanh, nhược thiên nhược nhân, Khẩn Na La đẳng, vô năng cập giả (山谷曠野、其中多有迦陵頻伽、出妙音聲、若天若人、緊那羅等、無能及者, nơi hang núi đồng rộng, trong đó có nhiều chim Ca Lăng Tần Già, phát ra tiếng hót vi diệu, dẫu Trời dẫu người, Khẩn Na La vân vân, không thể sánh bằng).” Trong kinh điển Phật Giáo, thường lấy âm thanh của loài chim nầy để ví cho tiếng vi diệu của chư Phật, Bồ Tát; hoặc xem Ca Lăng Tần Già như là loài chim của thế giới Cực Lạc. Trong đồ hình Mạn Trà La Tịnh Độ, Ca Lăng Tần Già được vẽ dưới hình dạng đầu người thân chim. Trong Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận (大乘集菩薩學論, Taishō Vol. 32, No. 1636) quyển 23 có câu: “Mâu Ni Tam Nghiệp siêu Tam Hữu, thí nhược phù cừ bất trước thủy, Ca Lăng Tần Già tịnh diệu thanh, thị cố ngã kim khể cụ lễ (牟尼三業超三有、譬若芙蕖不著水、迦陵頻伽淨妙聲、是故我今稽具禮, Mâu Ni Ba Nghiệp vượt Ba Cõi, giống như hoa sen chẳng thấm nước, Ca Lăng Tần Già tiếng vi diệu, vì vậy con nay cúi đầu lạy).” Hay trong Phật Thuyết Hộ Quốc Tôn Giả Sở Vấn Đại Thừa Kinh (佛說護國尊者所問大乘經, Taishō Vol. 12, No. 321) quyển 3 có đoạn: “Phước Quang Thái Tử viên uyển chi nội, hữu chủng chủng phi điểu, Anh Vũ, Cù Dục, Uyên Ương, Nga Áp, Khổng Tước Xá Lợi, Câu Chỉ La Điểu, Câu Nỗ La Điểu, Ca Lăng Tần Già, Mạng Mạng Điểu đẳng (福光太子園苑之內、有種種飛鳥、鸚鵡、鴝鵒、鴛鴦、鵝鴨、孔雀舍利、俱枳羅鳥、俱拏羅鳥、迦陵頻伽、命命鳥等, trong vườn của Thái Tử Phước Quang có nhiều loại chim bay, như chim vẹt, sáo, uyên ương, vịt trời, chim sẻ Xá Lợi, chim Câu Chỉ La, chim Câu Nỗ La, chim Ca Lăng Tần Già, chim Mạng Mạng, vân vân).” Trong Tam Thời Hệ Niệm Nghi Quỹ (三時繫念儀範, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1465) lại có đoạn: “Lục thời hành đạo bảo lâm gian, Cửu Phẩm tiêu danh kim chiểu nội, thủy điểu thọ lâm năng thuyết pháp, Ca Lăng Tần Già cọng đàm Thiền, bảo lan bảo can ảnh linh lung, bảo tọa bảo tràng quang xán lạn (六時行道寶林間、九品標名金沼內、水鳥樹林能說法、迦陵頻伽共談禪、寶欄寶網影玲瓏、寶座寶幢光燦爛, sáu thời hành đạo nơi rừng báu, Chín Phẩm đề danh trong hồ vàng, chim nước rừng cây còn thuyết pháp, Ca Lăng Tần Già thảy bàn Thiền, lan can quý báu ảnh lung linh, tòa báu tràng phan sáng rực rỡ).”
- Cả đoạn “dung nhan thậm kỳ diệu … Ca Lăng Tần Già thanh” được tìm thấy trong hai điển tịch như Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 4; Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi (法華三昧懺儀, Taishō Vol. 46, No. 1941), phần Minh Tán Thán Tam Bảo Phương Pháp (明讚歎三寶方法): “Dung nhan thậm kỳ diệu, quang minh chiếu thập phương, ngã thích tằng cúng dường, kim phục hoàn thân cận, Thánh Chủ thiên trung vương, Ca Lăng Tần Già thanh, ai mẫn chúng sanh giả, ngã đẳng kim kính lễ (容顏甚奇妙、光明照十方、我適曾供養、今復還親覲、聖主天中王、迦陵頻伽聲、哀憫眾生者、我等今敬禮, dung nhan thật kỳ diệu, sáng soi chiếu mười phương, con đã từng cúng dường, nay lại được hầu cận, Thánh Chủ vua các Trời, tiếng Ca Lăng Tần Già, thương xót hàng chúng sanh, chúng con nay kính lạy).” Cho nên, đoạn văn trong bài Nghi Khai Quang ở trên có thể được trích dẫn từ hai điển tịch nầy.
- Câu thần chú nầy có nội dung tương tợ với Khai Nhãn Quang Chơn Ngôn (開眼光眞言) là “Án, tác sô tác sô tam mãn đa tác sô vĩ thú đà nễ ta phạ hạ (唵作芻作芻三滿哆作芻尾戍馱你娑嚩賀)” trong Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh (佛說一切如來安像三昧儀軌經, Taishō Vol. 21, No. 1418).